Chuyển đến nội dung chính

Quy định về nhãn mác của sản phẩm khi xuất khẩu sang Nhật Bản

Hàng hóa xuất khẩu vào Nhật Bản được dán nhãn theo thông lệ thương mại, hàng hóa đã được dán mác ở nước xuất xứ rồi vẫn phải dán nhãn mác ghi bằng tiếng Nhật theo quy định của Nhật Bản ở vị trí dễ nhận biết hơn
Quy định về nhãn mác sản phẩm của Nhật Bản
Nghiêm cấm sử dụng rơm rạ làm chất liệu đóng gói hàng hóa vì người Nhật cho rằng rơm rạ là vật rất dễ là mầm gây bệnh truyền nhiễm, đồng thời đó cũng không phải là vật liệu tốt nhất để đảm bảo chất lượng sản phẩm. Khi giao hàng nên hỏi rõ người nhập khẩu về cách thức và quy cách đóng gói, bảo quản hàng hóa.
Hàng hóa xuất khẩu vào Nhật Bản được dãn nhãn theo thông lệ thương mại, hàng hóa đã được dán mác ở nước xuất xứ rồi vẫn phải dán nhãn mác ghi bằng tiếng Nhật theo quy định của Nhật Bản ở vị trí dễ nhận biết hơn, bao gồm các thông tin:
Thông tin về thành phần sản phẩm,
Thông tin an toàn thực phẩm, các tiêu chuẩn được quy định bởi chính phủ,
Thông tin cảnh báo người tiêu dùng,
Thông tin hướng dẫn sử dụng,
Thông tin về xuất xứ, thời hạn sử dụng và các thông tin khác…
Lưu ý: Khi xuất khẩu hàng rau quả nông sản sang Nhật Bản các doanh nghiệp Việt Nam cần phải biết đến tiêu chuẩn JAS (Japanese Agricultural Standards) có nghĩa là tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản. Các tiêu chuẩn này do Bộ Nông Lâm Ngư nghiệp Nhật Bản (MAFF) xây dựng. Người Nhật có sự tín nhiệm rất cao với sản phẩm mang nhãn JAS. Hệ thống này áp dụng cho cả sản phẩm sản xuất trong nước và nhập khẩu từ nước ngoài.
Mục tiêu của JAS dựa trên Luật Tiêu chuẩn hoá và Ghi nhãn riêng cho sản phẩm nông lâm nghiệp, gọi là Luật JAS.
Luật này có mục tiêu là xây dựng các tiêu chuẩn thích hợp cho các sản phẩm nông lâm nghiệp và thông qua việc phổ biến các tiêu chuẩn này sẽ giúp cải tiến chất lượng của nông lâm sản, hợp lý hoá việc sản xuất, thúc đẩy việc thương mại sòng phẳng và đơn giản, hợp lý hoá việc sử dụng và tiêu dùng, đồng thời đảm bảo ghi nhãn riêng cho nông lâm sản để tạo điều kiện thuận lợi cho việc lựa chọn của người tiêu dùng và thúc đẩy phúc lợi công cộng.
Hệ thống JAS gồm hai phần: "the Japanese Agricultural Standards (JAS) System" và "the Quality Lebeling Standards Systems". “Hệ thống JAS”("The JAS System") được thiết kế nhằm cho phép các sản phẩm đã qua kiểm tra dựa trên các tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật bản được mang biểu tượng JAS. "Hệ thống Tiêu chuẩn Ghi nhãn Chất lượng" ("the Quality Lebeling Standards Systems") được thiết kế nhằm yêu cầu các nhà sản xuất và bán hàng phải dán nhãn sản phẩm cuả họ phù hợp với các tiêu chuẩn về Ghi nhãn Chất lượng. Hệ thống JAS quy định cho gần 100 loại sản phẩm với khoảng 350 tiêu chuẩn cho các mặt hàng thực phẩm và vật liệu gỗ xây dựng. Các tiêu chuẩn về Ghi nhãn chất lượng được áp dụng cho tất cả các loại thực phẩm. Theo các tiêu chuẩn này, đối với thực phẩm tươi phải có tên và nơi xuất xứ, với thực phẩm chế biến phải có tên, thành phần, hạn sử dụng v.v...Ngoài ra, hệ thống kiểm tra, chứng nhận và ghi nhãn cho sản phẩm thực phẩm hữu cơ cũng được xây dựng và tạo nên một nhãn riêng cho sản phẩm thực phẩm "hữu cơ".
Tiêu chuẩn JAS là các tiêu chí về chất lượng nông lâm sản như phân loại, thành phần cấu tạo, đặc tính hoặc về phương pháp sản xuất. Việc xây dựng, sửa đổi hoặc huỷ bỏ tiêu chuẩn JAS do sự quyết định của Ban Nghiên cứu về Tiêu chuẩn Lâm và Nông nghiệp gồm toàn các chuyên gia là các đại diện hoặc nhà nghiên cứu trong lĩnh vực tiêu dùng, sản xuất và phân phối. Các tiêu chuẩn quốc tế cũng được đưa ra cân nhắc. Tiêu chuẩn JAS phải được soát xét định kỳ 5 năm.
Về hệ thống chứng nhận, có hai phương pháp để được mang nhãn JAS: nhà sản xuất chọn một tổ chức phân loại đã được đăng ký (registered grading organization) hoặc họ tự tiến hành việc phân loại. Để có thể tự tiến hành việc phân loại và dán nhãn JAS, nhà sản xuất phải có được chứng nhận của tổ chức chứng nhận đã được đăng ký. Theo sửa đổi luật tháng 7/1999, các tổ chức hải ngoại cũng có thể cung cấp dịch vụ phân loại và chứng nhận nếu tổ chức đó thoả mãn được cùng các điều kiện như các tổ chức trong nước (đối với nông sản và lâm sản, chỉ áp dụng cho những nước có hệ thống phân loại tương đương JAS mà danh sách được nêu trong Quy định của Bộ Nông Lâm Ngư nghiệp Nhật). Công ty hải ngoại có thể đăng ký với Bộ này để được đăng ký là tổ chức chứng nhận và phân loại ngoài nước. Việc này đã tạo nên cơ sở pháp lý cho các sản phẩm sản xuất ở hải ngoại được phân loại và cấp nhãn JAS bởi chính các công ty phân loại ở nước sở tại, đồng thời, các nhà sản xuất được công nhận bởi các tổ chức chứng nhận hải ngoại đã được đăng ký cũng có thể tự tiến hành các thủ tục và dán nhãn JAS.
Nguồn: Tổng hợp

Bài đăng phổ biến từ blog này

Những yêu cầu mới về tiêu chuẩn chất lượng để nông sản Việt có cơ hội xuất khẩu ra nước ngoài

Ngày 16/6, tại Cần Thơ, Liên minh tạo thuận lợi thương mại Việt Nam phối hợp cùng Hội Doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao tổ chức Hội thảo quốc tế “Những yêu cầu mới về tiêu chuẩn chất lượng để nông sản, thực phẩm Việt hội nhập”.  Hội thảo gồm các nội dung bàn về những bộ tiêu chí về an toàn thực phẩm mà chúng ta phải tuân thủ để đạt yêu cầu xuất khẩu hàng hóa, đã thu hút sự tham gia của đông đảo chuyên gia, cùng các doanh nghiệp Việt Nam trong và ngoài nước.  Tại hội thảo, đa phần các chuyên gia đều nhận xét, doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh trong lĩnh vực xuất khẩu hàng nông sản, thực phẩm đã có nhận thức về tầm quan trọng của việc tuân theo những tiêu chí khắt khe về an toàn thực phẩm của nước nhập hàng.  Thời gian vừa qua, một số đơn hàng nông sản, thủy sản của Việt Nam với các đối tác ở thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản bị hủy do không đáp ứng được tiêu chuẩn của nước sở tại. Không dừng lại ở đó, liền sau những đơn hàng bị hủy là sự kiểm soát khắt khe hơn đối với...

Năm 2018, Mỹ vẫn giữ vững vị trí là thị trường xuất khẩu điều lớn nhất của Việt Nam

Niên vụ 2017/18, hạt điều bị mất mùa trên diện rộng ở nhiều địa phương như Đạ Tẻ, Đạ Huai, Cát Tiên (Lâm Đồng), Bù Gia Mập (Bình Phước)… do thời tiết không thuận lợi, cộng với việc thiếu kinh nghiệm chăm sóc của nhiều hộ trồng điều. Theo ước tính của Hiệp hội điều Việt Nam (Vinacas), sản lượng hạt điều niên vụ 2017/18 của cả nước đạt khoảng 300.000 tấn, thấp hơn so với ước tính ban đầu khoảng 400.000 – 500.000 tấn.  Ngoài năng suất giảm, hạt điều trong nước còn bị giảm về chất lượng, đã ảnh hưởng đến giá mặt hàng. Tuần giữa tháng 4/2018, giá hạt điều thô ở tỉnh Bình Phước chỉ còn khoảng 29.000 đồng/kg, giảm từ 12.000 - 14.000 đồng/kg so với đầu vụ. Tại một số địa phương khác, giá hạt điều thô duy trì ở mức từ 33.000 - 35.000 đồng/kg tùy chất lượng. Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, xuất khẩu hạt điều trong tháng 3/2018 đạt 28,5 nghìn tấn, trị giá 286 triệu USD, tăng 86,2% về lượng và tăng 81,9% về trị giá so với tháng 2/2018, tăng 17,9% về lượng và tăng 24,6% về trị ...

Tiêu chuẩn Việt Nam dành cho hạt điều nhân xuất khẩu

Tiêu chuẩn chất lượng hạt điều tại Việt Nam  Để hạt điều sản xuất trong nước đạt đủ điều kiện xuất khẩu ra các thị trường khác trên thế giới, ngoài tiêu chuẩn Việt Nam dành cho hạt điều TCVN 4850:2010, doanh nghiệp cần phải sản xuất hạt điều đạt bảng tiêu chuẩn hạt điều xuất khẩu AFI 2012. Bảng 1 - Các chữ viết tắt Mô tả Tiếng Anh Viết tắt 1. Trắng White W 2. Vàng Scorched S 3. Vàng sém Second Scorched SS 4. Nám nhạt Light Blemish LB 5. Nám Blemish B 6. Nám đậm Dark Blemish DB 7. Vỡ ngang Butt B 8. Vỡ ngang nám Blemish Butt BB 9. Vỡ dọc Split S 10. Mảnh nhân lớn Large Pieces LP 11. Mảnh nhân nhỏ Small Pieces SP 12. Mảnh vụn Baby - Bits B-B Bảng 2 - Yêu cầu phân cấp chất lượng của nhân hạt điều theo TCVN 4850:2010 Cấp Ký hiệu Số nhân/kg Số nhân/lb Tên thương mại Mô tả 1 W 160 265-353 120 - 160 Nhân nguyên trắng Ngoài yêu cầu chung, nhân hạt điều phải có màu sắc đồng nhất, có thể trắng, trắng ngà, ngà nhạt, vàng nhạt hay xám tro nhạt. 2 W 180 355-395 161 - 180 3 W 210 440-465 ...